Trang nhất
Giới thiệu báo
Các số đã ra
Quảng cáo
Tìm kiếm
Liên hệ

 

***

Số người đã truy cập:

Build your own free web site

 

Đại hội Công đoàn Giáo dục Việt Nam lần thứ XIII: Đại hội của dân chủ, đoàn kết, trí tuệ và đổi mới

Bà Nguyễn Thị Thu Hồng - Phó Chủ tịch Tổng liên đoàn lao động Việt Nam trao bằng khen cho các cá nhân

Trong 2 ngày 6 – 7/5/2008 tại Cung văn hoá Hữu nghị Hà Nội đã diễn ra Đại hội đại biểu Công đoàn Giáo dục Việt Nam lần thứ XIII (nhiệm kỳ 2008 – 2013). Tới dự đại hội có bà Nguyễn Thị Thu Hồng – Phó Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Thứ trưởng thường trực Bộ GD&ĐT Bành Tiến Long, nguyên Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Minh Hiển, nguyên Bộ trưởng Bộ GD&ĐT - Chủ tịch Hội liên hiệp các trường đại học ngoài công lập Trần Hồng Quân, đại diện các ban ngành hữu quan, công đoàn giáo dục trực thuộc trên toàn quốc.

Với phương châm: “Dân chủ, đoàn kết, trí tuệ, đổi mới”, Đại hội XIII Công đoàn Giáo dục Việt Nam đã tổng kết đánh giá phong trào công nhân viên chức và hoạt động công đoàn trong 5 năm qua, xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới. Trên cơ sở tiếp thu ý kiến của Đại hội công đoàn Giáo dục các cấp, của đông đảo nhà giáo và lao động trong ngành, Báo cáo tham luận của Ban chấp hành Công đoàn Giáo dục do Chủ tịch Lê Hồng Sơn cho thấy: Từ Đại hội lần thứ XII (tháng 4/2003) đến nay, những nỗ lực của đội ngũ nhà giáo và người lao động trong ngành đã tạo đà cho giáo dục và đào tạo có những bước phát triển ổn định và vững chắc. Quy mô phát triển GD&ĐT không ngừng tăng, mạng lưới trường lớp được mở rộng, đầu tư cho giáo dục ngày càng tăng đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân. Chất lượng GD&ĐT bước đầu có chuyển biến tích cực về giáo dục toàn diện, giáo dục phổ thông. Công tác quản lý, cải cách hành chính được tăng cường. Việc triển khai cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục là khâu đột phá trong đổi mới quản lý GD&ĐT, được toàn xã hội quan tâm, ủng hộ đã thu được những kết quả đáng phấn khởi. Chất lượng đội ngũ nhà giáo được nâng lên rõ rệt và đã giảm bớt bất hợp lý về cơ cấu. Các chính sách đối với nhà giáo và lao động trong ngành đã cơ bản được thực hiện đầy đủ, nhất là chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, đời sống của đại bộ phận nhà giáo vẫn còn nhiều khó khăn do giá cả sinh hoạt tăng nhanh. Sự chênh lệch thu nhập giữa nhà giáo với cán bộ, công chức một số ngành khác còn khá lớn. Điều kiện làm việc của các nhà giáo nhìn chung còn thiếu thốn. Nhà ở công vụ cho giáo viên công tác miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn có rất ít và rất tạm bợ, chủ yếu là tranh tre, nứa lá.

Báo cáo cũng đưa ra kết quả thực hiện chương trình Đại hội XII Công đoàn Giáo dục Việt Nam với việc nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực, trình độ nghề nghiệp của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục nhằm thực hiện nhiệm vụ cơ bản của ngành GD&ĐT là “Chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”; Việc đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhà giáo và lao động tạo động lực nâng cao chất lượng, hiệu quả GD&ĐT; Việc tổ chức các phong trào thi đua, thực hiện các cuộc vận động mang tính xã hội rộng lớn nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của ngành như: phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt”; phong trào “Giỏi việc trường – đảm việc nhà”; Cuộc vận động “Xã hội hoá giáo dục”; Cuộc vận động “Dân chủ - Kỷ cương – Tình thương – Trách nhiệm”; Các hoạt động xã hội, nhân đạo, từ thiện.

Thẳng thắn nhìn nhận những tồn tại, thiếu xót và chỉ ra nguyên nhân khắc phục, Báo cáo cho rằng còn một số công đoàn cơ sở chưa chủ động sáng tạo, đổi mới nội dung và phương pháp, hình thức hoạt động, trông chờ sự chỉ đạo của cấp trên. Một số công đoàn chưa tạo ra được mối quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa công đoàn với chính quyền đồng cấp. Sự phối hợp giữa công đoàn giáo dục với liên đoàn lao động một số địa phương trong việc triển khai các chuyên đề ngành nghề còn lúng túng và chưa đồng bộ... Có nhiều nguyên nhân trong đó có việc hệ thống, tổ chức và phân cấp quản lý của công đoàn ngành giáo dục chưa phù hợp, chưa thống nhất, nên chưa quán triệt hết vị trí, vai trò, chức năng của công đoàn ngành nghề từ Trung ương đến địa phương và cơ sở.

Trong phương hướng, nhiệm vụ hoạt động công đoàn Giáo dục Việt Nam trong nhiệm kỳ XIII chỉ ra lấy mục tiêu “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” vì lợi ích và vị trí xã hội của nhà giáo và người lao động trong ngành... bảo đảm công bằng giáo dục cho mọi người, tạo điều kiện để xây dựng xã hội học tập, đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH – HĐH đất nước. Trong đó đề ra các chương trình hoạt động như: Chương trình 1: Đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và chăm lo đời sống nhà giáo và lao động trong ngành, xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tạo động lực nâng cao chất lượng, hiệu quả GD&ĐT, phục vụ CNH – HĐH đất nước; Chương trình 2: Xây dựng, nâng cao phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục nhằm thực hiện nhiệm vụ “Đổi mới, phát triển, nâng cao chất lượng GD&ĐT” của ngành; Chương trình 3: Vận động, tổ chức các nhà giáo và lao động trong ngành tích cực tham gia các phong trào thi đua và các cuộc vận động mang tính xã hội rộng lớn, nhằm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của ngành; Chương trình 4: Đổi mới tổ chức, tăng cường công tác kiểm tra, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn các cấp, xây dựng tổ chức vững mạnh. Chương trình 5: Chủ động và tích cực tham gia hội nhập quốc tế về giáo dục, mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại của công đoàn giáo dục các cấp theo đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam.

Chiều ngày 7/5, Đại hội tiếp tục nghe tham luận của các địa phương và trao thưởng cho các tập thể, cá nhân đã có các đóng góp trong nhiệm kỳ 2003 – 2008. Cuối phiên họp, Đại hội đã thông qua kết quả bầu cử Ban chấp hành khoá XIII gồm 41 người.

Ngọc Dư


Bộ GD&ĐT tiếp đoàn đại biểu Bộ Giáo dục và Khoa học CH Ucraina

Ngày 6/5/2008 đoàn đại biểu Bộ Giáo dục & Khoa học CH Ucraina do TS M.V Strikha, Thứ trưởng thứ nhất dẫn đầu đến thăm Bộ GD&ĐT. GS. TSKH Trần Văn Nhung, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT cùng đại diện của các cơ quan chức năng nồng nhiệt đón tiếp đoàn bạn.

Thứ trưởng Trần Văn Nhung nêu bật những công lao to lớn của Ucraina trong việc đào tạo cho nước ta đội ngũ cán bộ khoa học đông đảo và chất lượng. Nhân dân Việt Nam luôn biết ơn và lưu giữ những kỷ niệm đẹp về đất nước Ucraina. Hiện nay, quan hệ của hai nước chúng ta nói chung, quan hệ giữa Bộ GD&ĐT Việt Nam và Bộ Giáo dục & Khoa học Ucraina nói riêng hết sức tốt đẹp. Hàng năm Việt Nam gửi 25 sinh viên sang học tập tại Ucraina. Thứ trưởng Trần Văn Nhung đánh giá cao chất lượng đào tạo của nước bạn và đề nghị tiếp tục hợp tác theo hiệp định 2003-2008 đã được ký kết. Thứ trưởng Trần Văn Nhung mong muốn việc công nhận hệ thống bằng cấp giữa hai nước sớm đi đến thống nhất.

Thứ trưởng thứ nhất Bộ Giáo dục và Khoa học Ucraina M.V Strikha thông báo với Thứ trưởng Trần Văn Nhung đôi nét về giáo dục Ucraina trong những năm gần đây. Ucraina hiện có 345 trường ĐHTH, tăng đáng kể so với những năm trước. Ucraina có nhiều trường ĐH uy tín như ĐH Nông nghiệp, ĐH Bách khoa, ĐH Tài chính. Đặc biệt, Học viện Hàng không Kiev, một trường có tên tuổi vừa tổ chức hội thảo, trong đó có đại diện của Việt Nam tham gia. Ngài M.V Strikha thông báo với Thứ trưởng Trần Văn Nhung rằng hiện tại, số sinh viên Việt Nam du học theo đường nhà nước tại Ucraina chỉ có 25 em/năm nhưng số sinh viên theo học tự túc lên đến 1064 em.

Thứ trưởng Trần Văn Nhung đề nghị hai nước đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khoa học dựa trên cơ sở các viện khoa học và các trường ĐH.

Cả hai Thứ trưởng đều đánh giá việc hợp tác trong lĩnh vực giáo dục và nghiên cứu khoa học của hai nước còn quá khiêm tốn so với tiềm năng vốn có. Chính vì vậy, đẩy mạnh hợp tác giáo dục và đào tạo giữa Việt Nam và Ucraina là nhiệm vụ quan trọng của hai Bộ trong giai đoạn tới.

AP


Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XII: "Tập trung mọi nguồn lực để ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội"

Phát biểu khai mạc Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá XII (sáng 6/5/2008, tại Hội trường Bộ Quốc phòng, Hà Nội), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đã nêu tình hình kinh tế thế giới với tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm làm ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế của nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Tình hình kinh tế- xã hội Việt Nam vẫn phải đối mặt với một số khó khăn: giá cả tăng cao, nhất là giá các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, nguyên vật liệu, lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng; mức nhập siêu còn lớn, sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp thiếu ổn định, đời sống nhân dân ở nhiều vùng gặp khó khăn. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Quốc hội, Chính phủ, các ngành, các cấp và nhân dân cả nước phải ra sức phấn đấu, khắc phục khó khăn, triển khai đồng bộ các giải pháp, tập trung mọi nguồn lực để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, thực hiện nhiệm vụ kinh tế- xã hội năm 2008. Đặc biệt, cần tập trung vào những vấn đề quan trọng, bức thiết nhằm mục tiêu ưu tiên hàng đầu hiện nay là kiềm chế lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, quan tâm vấn đề an sinh xã hội, hỗ trợ, giúp đỡ người nghèo, đồng thời duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý để bảo đảm cho sự phát triển cao, bền vững ở những năm sau.”

Trong ngày làm việc 6/5 của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã trình bày báo cáo “Phấn đấu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững”.

Sau khi nêu rõ các bước phát triển chung của kinh tế xã hội năm 2007, báo cáo của Chính phủ nhấn mạnh: Những tháng cuối năm 2007 tình hình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp; giá dầu thô, giá lương thực và giá nguyên vật liệu, máy móc thiết bị tăng cao tạo thêm những thách thức gay gắt cho việc điều hành nền kinh tế và tác động tiêu cực đến ổn định kinh tế vĩ mô; giá tiêu dùng trong nước quý IV tăng rất mạnh, làm cho chỉ số giá tiêu dùng cả năm 2007 tăng 12,63%; kim ngạch nhập khẩu cả năm tăng 39.6%, nhập siêu tăng cao, bằng 29% tổng kim ngạch xuất khẩu và gấp hơn 2,7 lần năm 2006. “Tình hình kinh tế- xã hội 4 tháng đầu năm 2008 tiếp tục đạt được những kết quả rất đáng ghi nhận, nhưng cũng xuất hiện những mặt yếu kém và khó khăn rất lớn.” Tốc độ tăng trưởng kinh tế quý I tuy đạt khá cao (7,4%) nhưng thấp hơn cùng kỳ năm trước (7,8%) và thấp xa so với mục tiêu kế hoạch cả năm (8,5% đến 9% và phấn đấu đạt mức cao hơn)...

Báo cáo cũng cho biết: “Các lĩnh vực văn hoá, xã hội, khoa học, công nghệ, giáo dục, y tế, giải quyết việc làm, bảo vệ môi trường, xoá đói giảm nghèo, cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, công tác đối ngoại và đảm bảo quốc phòng, an ninh... được khẩn trương triển khai thực hiện và đạt được những kết quả tích cực. Chính trị xã hội ổn định. Nhưng nổi cộm lên và đáng lo ngại là tình hình lạm phát, giá cả tiêu dùng, nhập siêu tăng cao, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản đã đe dọa nghiêm trọng sự ổn định của kinh tế vĩ mô, tác động tiêu cực đến sản xuất, đến tăng trưởng của nền kinh tế và môi trường đầu tư, ảnh hưởng đến công ăn việc làm, thu nhập và đời sống của nhân dân, nhất là người nghèo, người lao động có thu nhập thấp và đồng bào ở những vùng thiên tai, dịch bệnh”.

Báo cáo của Chính phủ đã thẳng thắn chỉ ra: Bên cạnh những mặt mạnh, mặt tích cực, thì những yếu kém, bất cập trong quản lý, điều hành của Chính phủ là nguyên nhân chủ quan trực tiếp, quan trọng làm cho những yếu kém vốn có của nền kinh tế nước ta càng bộc lộ rõ hơn và tác động sâu rộng hơn”. Những yếu kém, bất cập trong quản lý, điều hành của Chính phủ thể hiện ở các mặt chủ yếu như: Thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng trong nhiều năm làm tổng phương tiện thanh toán và tổng dư nợ tín dụng tăng cao gây áp lực trực tiếp đến lạm phát. Thắt chặt tiền tệ để ưu tiên kiềm chế lạm phát là việc làm rất cần thiết, nhưng một số biện pháp xử lý cụ thể chưa thật thích hợp và đồng bộ, thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan nên đã làm nảy sinh những khó khăn mới...Tỷ lệ bội chi ngân sách ở mức 5% được giữ liên tục nhiều năm nhưng chưa đặt ra kế hoạch phấn đấu giảm dần bội chi; do đó không tạo được áp lực đối với việc kiểm soát và tiết kiệm chi tiêu ngân sách. Chi đầu tư từ khu vực nhà nước còn lớn và hiệu quả thấp... Vai trò của Nhà nước trong quản lý thị trường, quản lý giá cả, quản lý xuất nhập khẩu còn nhiều bất cập, yếu kém; chậm đề ra chính sách thích hợp, có hiệu quả để quản lý và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của các hoạt động này. Công tác nghiên cứu dự báo và thông tin thị trường chưa được coi trọng đúng mức. Thông tin tuyên truyền, giải thích tình hình chưa kịp thời.

Về nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu để kiềm chế lạm phát, duy trì tăng trưởng bền vững, Báo cáo của Chính phủ nhấn mạnh một số nội dung:

Thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ chặt chẽ, hiệu quả. “Thực hiện chính sách tài chính chặt chẽ theo hướng hết sức tiết kiệm chi, nhất là chi thường xuyên và kiểm soát chặt đầu tư công, giảm dần bội chi ngân sách...”.

Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để đẩy mạnh phát triển sản xuất, dịch vụ và thu hút đầu tư. “Phát triển mạnh sản xuất và dịch vụ là giải pháp cơ bản, tạo hiệu quả trực tiếp nhiều mặt, vừa tăng nguồn cung các hàng hoá dịch vụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa góp phần thiết thực kiềm chế lạm phát, giảm nhập siêu...” “Cần tăng mạnh đầu tư cho sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn để vừa bảo đảm đủ lương thực cho tiêu dùng trong nước, vừa tăng thêm số lượng lương thực xuất khẩu...”

Đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu, bảo đảm cân đối cung cầu hàng hoá; tăng cường quản lý thị trường, giá cả; chống đầu cơ, buôn lậu. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội.

Theo báo cáo của Chính phủ: Tình hình hiện nay đòi hỏi phải tập trung mọi nguồn lực để ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Khó khăn hiện nay là khó khăn trước mắt và là khó khăn trong quá trình phát triển. Sau hơn 20 năm đổi mới, thế và lực của đất nước đã lớn mạnh nhiều hơn, tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế còn rất lớn và nền kinh tế nước ta vẫn đang trong thời kỳ phát triển với tốc độ khá cao... Vì vậy cùng với việc thực hiện các nhiệm vụ cấp bách, cần phải tiếp tục tạo lập các cơ sở, tiền đề cho sự phát triển nhanh và bền vững trong các năm sau.

Hoàng Minh


Để thiết bị lớp 12 kịp tiến độ năm học

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Danh mục thiết bị dạy học tối thiểu, mẫu thiết bị dạy học tối thiểu lớp 12 và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức mua sắm, sử dụng thiết bị dạy học năm học 2008–2009.

Để mua sắm thiết bị dạy học lớp 12 kịp tiến độ năm học, Bộ GD-ĐT đã có công văn đề nghị UBND tỉnh, thành phố phối hợp với Bộ GD-ĐT chỉ đạo sở giáo dục và đào tạo căn cứ nhu cầu số lượng thiết bị cần mua sắm, chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần định giá và dịch vụ tài chính Việt Nam (Bộ Tài chính); có thể tham khảo thêm giá thị trường tại địa phương để xây dựng kế hoạch mua sắm, xây dựng kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu trình UBND tỉnh phê duyệt đúng tiến độ. Chỉ đạo sở tài chính; sở kế hoạch và đầu tư; các ban, ngành trực thuộc khẩn trương thẩm định các nội dung liên quan đến công tác đấu thầu mua sắm thiết bị dạy học để sớm trình Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố phê duyệt. Khẩn trương phê duyệt kết quả do các sở, ban ngành thẩm định để sở giáo dục và đào tạo và các cơ sở giáo dục và đào tạo thực hiện việc cung ứng thiết bị dạy học tối thiểu lớp 12 kịp thời phục vụ năm học 2008-2009.

Khung thời gian thực hiện việc cung ứng thiết bị dạy học lớp 12 được Bộ GD-ĐT quy định khá chi tiết. Theo đó, bắt đầu từ 16- 25.4 các địa phương phải tiến hành rà soát, điều chỉnh nhu cầu về số lượng thiết bị dạy học sau đó lên được bảng thống kê về số lượng TBDH tối thiểu cần mua sắm của toàn tỉnh, thành phố. Từ 10-15/5 tiến hành thẩm định và phê duyệt kế hoạch mua sắm; ngày 1/8 tiến hành cung ứng thiết bị cho các trường học (có thể cung ứng thiết bị dùng cho học kì I trước, học kì II sau) để đến 30/8 thiết bị dạy học về được đến trường.

TM


Thí sinh đã thực tế hơn

Ngày 5/5 tại Bộ GD&ĐT, đã diễn ra buổi bàn giao hồ sơ tuyển sinh giữa các Sở GD-ĐT và các trường đại học, cao đẳng khu vực phía Bắc. Các trường thuộc "top 2" như Đại học Công đoàn, Viện đại học Mở Hà Nội, Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, Đại học Hà Nội, Đại học Công nghiệp Hà Nội... thu hút nhiều thí sinh đăng ký, còn các trường thuộc “top 1” như Đại học Ngoại thương, Đại học Bách khoa, Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Y Hà Nội.... số lượng thí sinh đăng ký vẫn như mọi năm. Việc chọn các trường “top 2” cho thấy các thí sinh đã thực tế hơn vì tâm lý lo ngại sang năm sẽ bỏ kỳ thi tuyển sinh đại học nên đã suy tính “cầm chắc” việc đỗ vào một trường nào đó trong năm nay. Thống kê sơ bộ cho thấy, số lượng hồ sơ đăng ký năm nay tăng so với năm trước khoảng 15%, các ngành kinh tế thu hút được nhiều thí sinh hơn cả như Học viện Ngân hàng tăng từ 2.754 hồ sơ lên 4.658 hồ sơ; Học viện Tài chính tăng từ 1.557 hồ sơ lên 3.888 hồ sơ; ĐH Kinh doanh và Công nghệ tăng từ 4.664 hồ sơ lên 5.938 hồ sơ. Các trường khối nông lâm cũng có lượng hồ sơ tăng đáng kể. Nếu năm ngoài Đại học Lâm nghiệp nhận được khoảng 8000 hồ sơ thì năm nay số lượng đã tăng lên 14.000. Còn Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội cũng tăng thêm 4000 hồ sơ so với năm ngoái. Con số hồ sơ đăng ký tuyển sinh của thí sinh vào các trường cho thấy thí sinh đã thực tế hơn, đã biết tự lượng sức mình tìm đến với những trường phù hợp với khả năng.

PV


Bà Rịa - Vũng Tàu: Thành lập Trường Cao đẳng nghề dầu khí

Tiền thân của trường là trường Công nhân kỹ thuật Dầu khí ra đời ngày 7/11/1975. Năm 1989, trường có tên Cán bộ công nhân Dầu khí. Năm 1991, đổi tên là Trung tâm Đào tạo Dầu khí VN và năm 2000 có tên gọi Trường Đào tạo Nhân lực Dầu khí. Trải qua gần 33 năm thành lập, nhà trường đã đào tạo và bồi dưỡng cho hơn 55.000 học viên với trên 100 chương trình đào tạo khác nhau… Cuối tháng 4/2008, nhà trường đã làm lễ công bố Quyết định của Bộ trưởng Bộ GD & ĐT về việc nâng cấp trường thành trường Cao đẳng nghề dầu khí (thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc gia VN). Thành tích cao nhất của trường được ghi nhận bằng ba Huân chương Lao động và nhiều phần thưởng vinh dự khác.

Email: gdtd@fpt.vn

 


Trang nhất | Giới thiệu báo | Các số đã ra | Quảng cáo | Tìm kiếm | Nhắn tin | Liên hệ

Hoan nghênh bạn đọc góp ý, phê bình báo! Gửi thư cho toà soạn