|
***
Số người đã truy cập:
|
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải: Các địa phương cần thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát Tại Hội nghị giao ban chỉ đạo điều phối phát triển các vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ ngày 8/5 tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải cho rằng, các quy hoạch còn chưa ăn khớp, chưa hoàn thiện tổng thể nên quy hoạch cụ thể cho từng địa phương còn gặp nhiều khó khăn và chưa mấy có hiệu quả. Đồng thời, các bộ, ngành, địa phương của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ cần phải thực hiện nghiêm túc mục tiêu kiềm chế lạm phát, bình ổn kinh tế vĩ mô theo 8 biện pháp mà Chính phủ đã đề ra... Theo báo cáo của Ban chỉ đạo điều phối phát triển vùng kinh tế trọng điểm, năm 2007, tỷ trọng công nghiệp chiếm 43,7% GDP, dịch vụ chiếm gần 46%GDP, nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chỉ chiếm có 10,4% GDP. Năm 2007, thu nhập bình quân đầu người đạt 16,6 triệu đ/người, cao gấp 1,4 lần mức bình quân chung của cả nước, tăng trưởng kinh tế vùng là 12%. Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên, vùng kinh tế gặp nhiều khó khăn chung giống như kinh tế cả nước những tháng đầu năm nay, nên để đạt mức tăng trưởng năm nay bằng 12% như năm ngoái, là rất khó. Những vấn đề trọng tâm của vùng kinh tế trọng điểm hiện nay được hội nghị nêu ra là phát triển đô thị và KCN trong vùng còn chưa hợp lý, khi phát triển đô thị nhanh nhưng chưa có quy hoạch xứng tầm. Trong khi đó việc lập các đề án đô thị mới một cách ồ ạt, không hiệu quả và gây lãng phí. Điểm nóng thứ hai là ô nhiễm môi trường, đặc biệt là nguồn nước do chất thải công nghiệp và đô thị, chất thải rắn ngày càng tăng. Có thể thấy rất rõ qua ô nhiễm trên sông Nhuệ, sông Cầu... Chính phủ đã giao Bộ XD phải tiến hành một quy hoạch xử lý chất thải rắn. Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu các địa phương và bộ ngành trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ trước hết thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, bình ổn kinh tế vĩ mô theo 8 biện pháp của Chính phủ đã đề ra. Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Giao thông Vận tải tiếp tục hoàn thiện quy hoạch mạng lưới giao thông đường bộ, đường thuỷ. Bộ XD hoàn thiện quy hoạch đô thị, đặc biệt là khu vực Hà Nội dự kiến sẽ tăng lên 12 triệu dân, trong đó phải đảm bảo hệ thống cấp thoát nước, xử lý chất thải rắn... Về việc dạy nghề, Phó Thủ tướng nhấn mạnh đến huy động nguồn vốn đầu tư dạy nghề, đào tạo nhân lực từ tư nhân và vốn ngoài ngân sách. Bên cạnh đó khuyến khích kết hợp giữa doanh nghiệp và các trường như mô hình các DN Nhật Bản hợp tác với Trường ĐH Hàng hải hiện nay. Phó Thủ tướng cũng yêu cầu các địa phương và Bộ ngành mỗi lần họp giao ban, cần nêu thẳng vấn đề, đầu việc, không nên bàn luận những vấn đề chung chung khiến công việc không được giải quyết hiệu quả. Thường mỗi năm Vùng họp giao ban một lần, nhưng có thể họp đột xuất để giải quyết các đầu việc cụ thể. P.V Di dân tái định cư thủy điện Sơn La và những cẩn trọng cần thiết: Vẫn còn nóng bài học từ Tân Lập Tính đến hết năm 2007, Sơn La đã tổ chức di dân TĐC cho 6.457 hộ. Số 6.643 hộ còn lại, tỉnh đặt kế hoạch kết thúc vào tháng 5/2009. Có nghĩa là trong 1 năm tới đây, con số di dân TĐC của Sơn La sẽ bằng tổng số kết quả cộng lại của cả 4 năm trước đó. Dự kiến “cao điểm” sẽ là cuối năm 2008 sang năm 2009, là thời điểm giữa mùa khô ở Tây Bắc. Kế hoạch đã có, lộ trình cũng rất cụ thể. Nhưng cái quan trọng đối với Sơn La bây giờ không phải triển khai công tác TĐC như thế nào mà là làm thế nào để có được sự ổn định và bền vững ở các khu TĐC, khi mà bài học về dự án thí điểm Tân Lập vẫn còn đó... Khu TĐC Tân Lập (thuộc xã Tân Lập, huyện Mộc Châu - Sơn La) đón khoảng 400 hộ đồng bào Thái, La Ha từ xã ít Ong (huyện Mường La - Sơn La) TĐC trên địa bàn từ năm 2004, suốt 4 năm qua chưa bao giờ ngớt những lời phàn nàn của người dân về “quê hương mới” này. Chính đây là nơi nảy sinh tình trạng người dân bỏ khu định cư về nơi ở cũ để tiếp tục canh tác, gây quan ngại không nhỏ cho dư luận xã hội. Tất nhiên, cái gì cũng phải có nguyên nhân của nó... Chúng tôi đã có dịp đến Tân Lập hồi đầu năm 2005, ngay từ khi ấy đã nhận thấy những bất cập: Các ngôi nhà TĐC xây dựng hàng loạt được đặt quá gần nhau, không gian bên trong các ngôi nhà rất chật chội với những kết cấu hoàn toàn không phù hợp với lối sống, sinh hoạt của người dân bản địa. Đó là chưa kể đến việc bố trí cơ cấu sản xuất cũng rất tuỳ tiện, không dựa trên yếu tố địa lý và không phù hợp với tập quán canh tác đã có từ ngàn đời của bà con. Cần biết rằng, nguyên tắc di dân TĐC là phải bảo đảm cho người dân có cuộc sống tốt hơn hoặc ít nhất cũng tương đương với nơi ở cũ, từ cơ sở hạ tầng cho đến phúc lợi công cộng và đặc biệt là điều kiện sản xuất phải đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai. Những nguyên tắc đó không được bảo đảm ở Tân Lập khi dự án được triển khai thí điểm đã đành, vậy mà sau 4 năm, các nhà quản lý có vẻ cũng chưa khắc phục được nhiều những bất cập. Bằng chứng là ngay ở thời điểm này vẫn có tình trạng bà con bỏ khu TĐC về nơi ở cũ (địa bàn Mường La) để canh tác trên các thửa ruộng trước đây của gia đình, với cái lý rất đơn giản: ở chỗ mới đã không có đủ đất canh tác lại còn thiếu cả nước sản xuất, trong khi các nương rẫy cũ lại bị bỏ hoang (thực ra đó là những điểm sẽ ngập nước sau khi hoàn thành ngăn đập Thuỷ điện Sơn La). “Đến vận động bà con đừng trở lại đây dựng lán làm nương nữa, về khu TCĐ đi thì bà con bảo cứ để chúng tôi gieo trồng được ngày nào hay ngày ấy kiếm hạt lúa hạt ngô, bao giờ nước lên sẽ thôi ngay. Thành ra, chúng tôi cũng rất khó khăn trong chuyện này”, ông Trịnh Xuân Hùng phân trần. Đồng ý rằng Tân Lập là dự án thí điểm nên không thể hoàn hảo, thế nhưng vẫn phải tìm ra nguyên nhân của sự “không hoàn hảo” đó. Cái sai lầm đầu tiên là sự vội vàng: Vội vàng trong triển khai xây dựng khu TĐC, vội vàng trong việc huy động một lúc số lượng di dân quá lớn trong khi chưa có một chút kinh nghiệm tương tự nào ở địa phương. Thực tế ở Tân Lập, khi quy mô lên đến 300 - 400 hộ thì sức ép về nhà ở, đất đai sản xuất rất lớn. Truyền thống của người dân bản địa là nhà ở phải có vườn, có ao, có khoảng không... thì ở Tân Lập không đảm bảo được các yếu tố này. Một nguyên nhân nữa không kém phần quan trọng là người dân thuộc diện TĐC trong dự án thí điểm lại chưa được tham gia việc xây dựng kế hoạch TĐC cho chính mình, có nghĩa là những nhân vật chính, những người trong cuộc thì lại... đứng ngoài cuộc. Khi tiếng nói của người dân không được chú trọng, các bất cập đương nhiên khó tránh khỏi. Sơn La phải làm thế nào để những bất cập ở khu TĐC Tân Lập không xuất hiện ở các khu TĐC khác, kể cả đối với những khu TĐC đã được triển khai trước kia và kể cả việc khắc phục các bất cập vẫn đang tồn tại ở Tân Lập? Theo ông Trịnh Xuân Hùng, sau khi có những nghiên cứu, đánh giá nghiêm túc về kết quả của dự án thí điểm khu TĐC Tân Lập, lãnh đạo tỉnh Sơn La đã thống nhất quan điểm phải để người dân được tham gia lựa chọn nơi đến nhập cư, thời gian di chuyển và lựa chọn việc xây dựng, thiết kế nhà ở cũng như cơ sở hạ tầng của khu vực TĐC do chủ dự án thực hiện. Ông Hùng cho biết Ban quản lý dự án di dân TĐC thuỷ điện Sơn La đã thống nhất quy mô cho mỗi điểm di dân chỉ nên ở mức 50 hộ, không theo quy mô 300 - 400 hộ tập trung như ở Tân Lập. Các dự án di dân, TĐC có thiết kế quy mô nhỏ sẽ thích hợp với khả năng bố trí, điều kiện đất đai, nguồn nước, đất ở và đất sản xuất cũng như phù hợp với quy mô một cộng đồng văn hóa của đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc. Tất nhiên, quy mô nhỏ 50 hộ cũng sẽ phát sinh nhu cầu suất đầu tư cao vì chủ đầu tư vẫn phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, nhưng đó là những việc bắt buộc phải làm để đảm bảo cho người dân TĐC có một cuộc sống ổn định và nhất là bảo đảm một tương lai lâu dài trên vùng đất mới. Mai Thiết Lĩnh Dấu mốc quan trọng trong phát triển kinh tế Sự ra đời của Hội Phát triển hợp tác kinh tế Việt Nam - Lào - Campuchia được coi là một dấu mốc quan trọng để thúc đẩy và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế đầu tư giữa Việt Nam với Lào và Campuchia. Phát biểu tại lễ ra mắt của Hội ngày 6/3 vừa qua, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc hoan nghênh sáng kiến thành lập Hội và bày tỏ mong muốn rằng, ngoài việc tham gia phản biện chính sách cơ chế hợp tác đầu tư giữa Việt Nam với Lào và Campuchia, Hội cần tạo điều kiện để các tổ chức, doanh nghiệp, nhà đầu tư Việt Nam được tiếp xúc và đối thoại định kỳ với các cơ quan quản lý nhà nước của ba nước nhằm phản ảnh tình hình và kiến nghị biện pháp hỗ trợ; thường xuyên tổ chức các diễn đàn để doanh nghiệp ba nước gặp gỡ, tìm kiếm cơ hội hợp tác kinh tế và đầu tư; đồng thời tham gia cùng với các cơ quan nhà nước bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp khi có những tranh chấp phát sinh. Theo Bộ trưởng, khi Hội ra đời và hoạt động, các doanh nghiệp (DN) của cả ba nước sẽ có nhiều điều kiện để tìm hiểu và thực hiện các dự án đầu tư. Số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, kim ngạch trao đổi hàng hoá giữa Việt Nam và Lào tăng từ 260 triệu USD năm 2005 lên 312 triệu USD vào năm 2007. Tính đến cuối năm 2007, tổng vốn đầu tư trực tiếp đăng ký của Việt Nam sang Lào đã lên tới 1,04 tỷ USD, xếp thứ 3 trong 40 nước đầu tư vào Lào. Các DN của Lào cũng đã đầu tư sang Việt Nam 48,3 triệu USD. Trong năm 2007, giá trị hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu sang Campuchia đạt 991 triệu USD và Campuchia xuất khẩu sang Việt Nam 202 triệu USD. Tính đến hết năm 2007, tổng vốn đầu tư trực tiếp đăng ký của Việt Nam sang Campuchia đạt 90 triệu USD đồng thời các DN Campuchia cũng đã đầu tư sang Việt Nam 5,2 triệu USD. Nhận định về thực tế phát triển hợp tác kinh tế đầu tư giữa ba nước, Bộ trưởng Võ Hồng Phúc cho rằng, mặc dù có quan hệ truyền thống tốt đẹp song hợp tác kinh tế đầu tư giữa ba nước vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Theo Bộ trưởng, hợp tác kinh tế đầu tư còn khó khăn có cả lý do khách quan và chủ quan. Luật pháp, chính sách của các nước bạn thường xuyên được bổ sung, hoàn thiện theo đà phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế trong khi nhiều doanh nghiệp nước ta không có điều kiện cập nhật, nắm chắc luật pháp, chính sách của nước bạn nên hoạt động mang tính tự phát, hiệu quả chưa cao. Công tác thông tin, tư vấn cho các doanh nghiệp còn rất hạn chế... Do đó, nếu không tích cực và chủ động hơn, thì rất dễ bị thua thiệt so với các đối tác đến từ các nước khác vì áp lực cạnh tranh trong trong xu thế hội nhập đang ngày càng lớn. Các DN Việt Nam đang thể hiện sự quan tâm của mình đối với Lào và Campuchia. Bằng chứng là đã có trên 200 hội viên (trong tổng số hơn 500 hội viên) là các tổ chức, doanh nghiệp đã và đang có ý định đầu tư sang Lào và Campuchia. Các chuyên gia tin tưởng sẽ có sự khởi sắc trong hợp tác kinh tế đầu tư giữa Việt Nam với Lào - Campuchia ra đời. Trần Nhật |
|
|
Trang nhất | Giới thiệu báo | Các số đã ra | Quảng cáo | Tìm kiếm | Nhắn tin | Liên hệ
|